Thực hành tiếng Việt là một phần học riêng trong mỗi bài của sách Ngữ văn theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, dùng để luyện kiến thức về từ, câu, dấu câu và biện pháp tu từ ngay trên ngữ liệu của văn bản vừa đọc. Đây không phải một môn mới, mà là tiết thay cho các tiết Từ ngữ, Ngữ pháp, Luyện từ và câu của chương trình trước đây.
Thực hành tiếng Việt nằm ở đâu trong một bài Ngữ văn
Sách Ngữ văn từ lớp 6 đến lớp 12 được sắp xếp theo bài học, mỗi bài gồm bốn phần nối tiếp nhau:
- Đọc: một hoặc hai văn bản chính cùng loại, kèm câu hỏi đọc hiểu.
- Thực hành tiếng Việt: bài tập về một đơn vị kiến thức tiếng Việt, lấy ví dụ từ chính văn bản vừa học.
- Viết: luyện một kiểu bài viết tương ứng với loại văn bản đã đọc.
- Nói và nghe: trình bày, thảo luận về vấn đề của bài học.
Cách sắp xếp này giải thích vì sao tên mục chỉ là Thực hành tiếng Việt kèm số trang, không có tên bài cụ thể. Khi tìm bài tập, học sinh nên gọi theo số trang và theo bộ sách, ví dụ thực hành tiếng Việt lớp 8 trang 16, vì mỗi bộ sách sắp xếp thứ tự chủ điểm khác nhau.
Thực hành tiếng Việt học những nội dung gì theo từng lớp
| Lớp |
Một số nội dung tiêu biểu |
| Lớp 6 |
Từ đơn và từ phức, từ ghép và từ láy, cụm danh từ – cụm động từ – cụm tính từ, trạng ngữ, so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, từ mượn, dấu ngoặc kép |
| Lớp 7 |
Số từ, phó từ, thành ngữ, từ địa phương, nói quá, nói giảm nói tránh, liên kết và mạch lạc của đoạn văn, mở rộng thành phần câu bằng cụm chủ – vị, dấu gạch ngang |
| Lớp 8 |
Trợ từ, thán từ, từ tượng hình và từ tượng thanh, biệt ngữ xã hội, các kiểu câu chia theo mục đích nói, câu khẳng định và câu phủ định, đảo ngữ, câu hỏi tu từ, nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn |
| Lớp 9 |
Nghĩa và cách dùng từ Hán Việt, điển tích điển cố, chơi chữ, điệp thanh và điệp vần, lựa chọn câu đơn hay câu ghép, cách dẫn trực tiếp và cách dẫn gián tiếp, phương tiện phi ngôn ngữ |
Thứ tự các nội dung trên có thể xê dịch giữa các bộ sách, nhưng tổng lượng kiến thức mỗi lớp là như nhau vì đều căn theo cùng một chương trình. Ở tiểu học, phần này chưa tách thành mục riêng mà lồng vào bài đọc, như có thể thấy trong nội dung tiếng Việt lớp 5.
Năm dạng câu hỏi thường gặp và cách làm
| Dạng câu hỏi |
Cách trả lời |
| Nhận diện (tìm từ láy, tìm trạng ngữ, chỉ ra biện pháp tu từ) |
Chép đúng từ ngữ trong ngoặc kép, không diễn đạt lại |
| Giải nghĩa (nêu nghĩa của từ, giải thích thành ngữ) |
Giải nghĩa gốc trước, rồi nêu nghĩa trong câu cụ thể |
| Phân tích tác dụng |
Gọi tên biện pháp, chỉ ra từ ngữ thể hiện, nêu tác dụng về nội dung và về cảm xúc |
| Chữa lỗi (lỗi dùng từ, lỗi dấu câu, lỗi liên kết) |
Chỉ ra lỗi, nêu lý do sai, viết lại câu đã sửa |
| Vận dụng (viết câu hoặc đoạn có dùng đơn vị vừa học) |
Viết xong phải gạch chân hoặc chú thích đơn vị kiến thức được dùng |
Dạng phân tích tác dụng chiếm điểm nhiều nhất và cũng bị mất điểm nhiều nhất, vì học sinh hay dừng ở câu gọi tên biện pháp mà bỏ phần tác dụng.
Bài làm mẫu cho dạng phân tích tác dụng
Đề: Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ trong câu: Bàn tay mẹ chai sần như vỏ cây mùa hạn.
Câu văn dùng biện pháp so sánh: bàn tay mẹ chai sần được so sánh với vỏ cây mùa hạn, nối bằng từ so sánh như.
Tác dụng về nội dung: hình ảnh vỏ cây mùa hạn gợi ra sự khô ráp, nứt nẻ, giúp người đọc hình dung cụ thể đôi bàn tay đã lao động quá nhiều.
Tác dụng về cảm xúc: phép so sánh biến một chi tiết ngoại hình thành dấu vết của cả một đời vất vả, nhờ đó câu văn bộc lộ lòng biết ơn và sự xót xa của người con.
Tác dụng về diễn đạt: cách so sánh với hình ảnh thiên nhiên quen thuộc làm câu văn giàu hình ảnh mà vẫn mộc mạc, phù hợp với giọng kể về mẹ.
Khuôn trả lời ba bước gọi tên – chỉ ra – nêu tác dụng dùng được cho hầu hết biện pháp tu từ. Khi đề hỏi về từ ngữ thay vì biện pháp, hãy đổi bước đầu thành nêu nghĩa của từ, chẳng hạn giải nghĩa rồi tìm từ đồng nghĩa để thấy sắc thái khác nhau giữa các cách diễn đạt.
Cách học phần thực hành tiếng Việt cho hiệu quả
- Đọc kỹ văn bản trước. Bài tập thực hành tiếng Việt gần như luôn lấy ngữ liệu từ văn bản vừa đọc, nên bỏ qua phần đọc sẽ khiến bài tập trở nên khó hiểu.
- Lập một sổ tay kiến thức. Mỗi đơn vị kiến thức ghi ba dòng: định nghĩa ngắn, một ví dụ trong sách, một ví dụ tự đặt. Sổ này dùng lại được khi ôn thi cuối kỳ.
- Chú ý phần hộp kiến thức. Trong sách, định nghĩa thường được in trong khung trước hoặc sau các bài tập; đó mới là phần cần học thuộc, bài tập chỉ là luyện tập.
- Tự đặt câu sau mỗi bài. Đặt hai câu có dùng đơn vị vừa học sẽ nhớ lâu hơn làm mười bài nhận diện.
- Nối sang phần viết. Kiến thức tiếng Việt chỉ thực sự có ích khi được dùng trong bài làm, nên hãy chủ động đưa chúng vào khi viết đoạn văn hoặc làm bài tập làm văn.
Nếu không tìm thấy bài tập đúng trang trên mạng, nguyên nhân gần như luôn là khác bộ sách. Bạn có thể xem bài sách giáo khoa hiện nay có mấy bộ để xác định đúng bộ sách mình đang dùng rồi tìm lại. Từ năm học 2026 – 2027, cả nước dùng thống nhất bộ Kết nối tri thức với cuộc sống theo Quyết định số 3588/QĐ-BGDĐT, nên tình trạng lệch trang giữa các bộ sẽ giảm dần, còn sách đã in từ năm 2025 trở về trước vẫn được tiếp tục sử dụng.
Câu hỏi thường gặp
Thực hành tiếng Việt có phải môn học riêng không?
Không. Đây là một phần của môn Ngữ văn, chiếm một đến hai tiết trong mỗi bài học, xen giữa phần đọc và phần viết. Điểm của phần này được tính chung vào điểm môn Ngữ văn.
Vì sao thực hành tiếng Việt lớp 7 và lớp 8 của bạn em khác sách em?
Vì cả nước đang lưu hành nhiều bộ sách Ngữ văn viết theo cùng một chương trình. Các bộ chọn văn bản và sắp xếp chủ điểm khác nhau, nên cùng một nội dung tiếng Việt có thể nằm ở trang khác, bài khác, thậm chí ở học kỳ khác.
Phần này có xuất hiện trong đề thi không?
Có. Trong đề Ngữ văn, phần đọc hiểu thường có một đến hai câu hỏi về từ ngữ, dấu câu hoặc biện pháp tu từ. Đó chính là nội dung của phần học này.
Làm sao nhớ được nhiều biện pháp tu từ?
Hãy nhóm lại thay vì học rời: nhóm so sánh và ẩn dụ, hoán dụ dựa trên quan hệ giữa hai đối tượng; nhóm điệp từ, điệp ngữ, điệp thanh dựa trên sự lặp lại; nhóm nói quá, nói giảm nói tránh dựa trên mức độ diễn đạt. Mỗi nhóm chỉ cần nhớ một ví dụ gốc.
Có nên dùng sách giải cho phần này không?
Nên tự làm trước rồi mới đối chiếu. Phần lớn câu hỏi thực hành tiếng Việt yêu cầu phân tích tác dụng, mà cách diễn đạt của mỗi người là khác nhau, nên chép nguyên đáp án vừa không nhớ được vừa dễ bị trùng với cả lớp.