Nghị luận xã hội là dạng bài dùng lí lẽ và bằng chứng để bàn về một tư tưởng, đạo lí hoặc một hiện tượng trong đời sống, nhằm nêu rõ quan điểm của người viết. Dạng bài này có hai kiểu chính: nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống, khác nhau ở đối tượng bàn luận và ở trình tự triển khai.
Nghị luận xã hội xuất hiện ở đâu
Nghị luận xã hội là một trong các kiểu bài viết được quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở cấp trung học phổ thông. Cấu trúc đề không phải là quy định cố định, nhưng đề Ngữ văn những năm gần đây thường có phần viết gồm một đoạn nghị luận khoảng 200 chữ và một bài nghị luận dài hơn, khoảng 600 chữ; nghị luận xã hội có thể nằm ở câu nào trong hai câu đó là tùy đề. Ở trung học cơ sở, dạng bài tương ứng là nghị luận về một vấn đề trong đời sống, với yêu cầu đơn giản hơn về bằng chứng và phản biện.
Điểm chung của mọi đề nghị luận xã hội là người viết phải có một ý kiến rõ ràng. Bài trung tính, không nêu được mình nghĩ gì, thường chỉ đạt mức trung bình dù diễn đạt tốt.
Hai dạng bài và cách phân biệt
| Tiêu chí |
Nghị luận về tư tưởng, đạo lí |
Nghị luận về hiện tượng đời sống |
| Đối tượng |
Một câu nói, một quan niệm, một phẩm chất như lòng trung thực, sự tử tế, tinh thần trách nhiệm |
Một việc đang diễn ra như rác thải nhựa, học sinh dùng điện thoại, trào lưu trên mạng xã hội |
| Bước mở đầu thân bài |
Giải thích từ khóa và giải thích cả câu |
Nêu thực trạng với biểu hiện cụ thể |
| Trọng tâm |
Bàn luận đúng hay sai, vì sao, ở mức độ nào |
Phân tích nguyên nhân và hậu quả, rồi đề xuất giải pháp |
| Bằng chứng |
Tấm gương, câu chuyện, ý kiến của người có uy tín |
Sự việc có thật, quan sát trực tiếp, số liệu đáng tin |
| Kết bài |
Rút ra bài học nhận thức và hành động |
Nêu giải pháp cụ thể và trách nhiệm của bản thân |
Cách nhận dạng nhanh: nếu đề trích một câu nói hoặc nêu một phẩm chất thì đó là tư tưởng, đạo lí; nếu đề nêu một việc đang xảy ra, có thời gian và không gian cụ thể thì đó là hiện tượng đời sống.
Dàn ý cho dạng tư tưởng, đạo lí
- Mở bài: dẫn dắt, nêu tư tưởng cần bàn, nêu ý kiến khái quát của người viết.
- Giải thích: giải nghĩa từ khóa, rồi giải nghĩa cả câu hoặc cả quan niệm.
- Bàn luận – khẳng định: nêu hai đến ba lí lẽ cho thấy tư tưởng đó đúng, mỗi lí lẽ kèm một bằng chứng và một câu phân tích.
- Bàn luận – mở rộng: chỉ ra giới hạn của tư tưởng, hoặc phê phán cách hiểu sai lệch về nó.
- Bài học: nêu bài học nhận thức và một việc làm cụ thể.
- Kết bài: khẳng định lại giá trị của tư tưởng bằng cách diễn đạt khác.
Dàn ý cho dạng hiện tượng đời sống
- Mở bài: nêu hiện tượng, cho thấy nó đáng quan tâm ở điểm nào.
- Thực trạng: mô tả hiện tượng bằng biểu hiện cụ thể, có thể kèm số liệu nếu chắc chắn về nguồn.
- Nguyên nhân: chia hai nhóm, nguyên nhân từ cá nhân và nguyên nhân từ môi trường xung quanh.
- Hậu quả hoặc ý nghĩa: nếu là hiện tượng tiêu cực thì nêu hậu quả, nếu là hiện tượng tích cực thì nêu giá trị.
- Giải pháp: xếp theo chủ thể, gồm bản thân, gia đình, nhà trường và cộng đồng.
- Kết bài: chốt lại và nêu việc làm của chính người viết.
Phần giải pháp là nơi dễ sáo rỗng nhất. Thay vì viết chung chung kiểu cần nâng cao ý thức, hãy nêu việc làm đo được, chẳng hạn mỗi lớp đặt một hộp thu gom pin cũ, hoặc tắt thông báo điện thoại trong giờ tự học.
Cách mở bài nghị luận xã hội
| Cách mở bài |
Ưu điểm |
Lưu ý |
| Đi từ một tình huống thực tế |
Tự nhiên, dễ viết, không cần nhớ danh ngôn |
Tình huống phải liên quan trực tiếp tới vấn đề |
| Đi từ một câu hỏi |
Tạo được sự chú ý ngay câu đầu |
Phải tự trả lời câu hỏi đó trong câu nêu ý kiến |
| Đi từ nhận xét chung rồi thu hẹp |
Phù hợp dạng tư tưởng, đạo lí |
Không nên nhận xét quá rộng, dễ bị coi là sáo |
| Đi từ một ý kiến trái chiều |
Tạo thế đối thoại, gây ấn tượng |
Cần phản bác ý kiến đó trong thân bài |
Mở bài mẫu – dạng tư tưởng, đạo lí. Người ta thường nhắc nhau phải thành công, ít ai nhắc nhau phải tử tế. Thế nhưng trong một lớp học, điều khiến người khác muốn ở gần một người không phải là bảng điểm, mà là cách người đó đối xử với bạn bè. Theo tôi, sự tử tế không phải món trang trí thêm cho một con người giỏi, mà là phần nền móng quyết định giá trị của họ.
Mở bài mẫu – dạng hiện tượng đời sống. Ở nhiều lớp học, chiếc điện thoại nằm trong ngăn bàn nhưng tâm trí học sinh lại nằm trong chiếc điện thoại ấy. Chỉ cần một tiếng thông báo, cả mạch bài giảng vừa theo được đã đứt. Hiện tượng học sinh dùng điện thoại trong giờ học vì vậy không còn là chuyện nhỏ của riêng ai, mà là vấn đề của chất lượng giờ học.
Cả hai mở bài trên đều dừng ở ba câu và đều kết thúc bằng một câu nêu ý kiến. Đây là khuôn an toàn nhất trong phòng thi, vì vừa đủ dẫn dắt, vừa không chiếm chỗ của thân bài.
Cách viết đoạn nghị luận xã hội 200 chữ
- Chỉ bàn một ý. Đoạn 200 chữ không đủ chỗ cho cả thực trạng, nguyên nhân, hậu quả và giải pháp; hãy chọn một trọng tâm theo đúng yêu cầu đề.
- Phân bố câu: một câu nêu ý kiến, bốn đến năm câu bàn luận kèm một bằng chứng, một câu phản biện, một câu chốt.
- Không mở bài, không kết bài riêng. Đoạn văn chỉ có câu mở đoạn và câu kết đoạn, không chia ba phần như bài văn.
- Giữ đúng dung lượng đề yêu cầu. Viết vượt quá nhiều so với mức đề nêu có thể bị trừ điểm hình thức; cách kiểm soát là ước lượng khoảng 18 dòng giấy thi cho 200 chữ.
Về khuôn cấu trúc của một đoạn, bạn nên xem lại cách viết đoạn văn; còn khi làm câu nghị luận dài 600 chữ, hãy áp dụng bố cục trong bài cách viết bài văn hoàn chỉnh.
Những lỗi làm mất điểm
- Kể chuyện thay vì nghị luận: dùng gần hết bài để thuật lại một câu chuyện mà không phân tích nó chứng minh điều gì.
- Bằng chứng không rõ nguồn: dẫn số liệu nghe nói hoặc dẫn tên người không chắc chắn. Khi không chắc, hãy dùng sự việc quan sát được.
- Bỏ phần mở rộng, phản biện: bài trở nên một chiều, khó đạt mức điểm cao.
- Giải pháp chung chung: toàn những câu cần tuyên truyền, cần nâng cao nhận thức mà không có việc làm cụ thể.
- Lạm dụng câu cảm thán và từ ngữ hoa mỹ: văn nghị luận cần giọng điềm tĩnh và lập luận chặt hơn là cảm xúc dồn dập.
- Học thuộc bài mẫu: đề những năm gần đây thường gắn câu nghị luận với ngữ liệu đọc hiểu ở phần trước, nên bài học thuộc rất dễ lệch yêu cầu.
Với học sinh lớp 12, phần viết nghị luận xã hội chiếm tỉ lệ đáng kể trong điểm môn Ngữ văn, mà điểm thi lại chiếm tỉ trọng lớn trong cách tính điểm tốt nghiệp. Vì vậy luyện dạng bài này đều đặn có hiệu quả rõ hơn là ôn dồn vào tháng cuối.
Câu hỏi thường gặp
Nghị luận xã hội có mấy dạng?
Có hai dạng chính: nghị luận về một tư tưởng, đạo lí và nghị luận về một hiện tượng đời sống. Một số đề kết hợp cả hai, chẳng hạn trích một câu nói rồi yêu cầu bàn về một hiện tượng liên quan.
Mở bài nghị luận xã hội nên dài bao nhiêu câu?
Ba đến bốn câu là hợp lí, kết thúc bằng một câu nêu rõ ý kiến của người viết. Với đoạn 200 chữ thì không có mở bài riêng, chỉ có một câu mở đoạn.
Có nên dùng danh ngôn trong bài nghị luận xã hội?
Nên dùng tiết chế, một câu là đủ và phải chắc chắn về nội dung câu nói. Dẫn sai hoặc gán sai người nói sẽ làm giảm độ tin cậy của cả bài.
Bằng chứng trong nghị luận xã hội lấy từ đâu?
Ba nguồn an toàn là sự việc người viết trực tiếp quan sát, các sự kiện phổ biến nhiều người biết, và quy định hoặc chủ trương có thật. Tránh số liệu không rõ ai công bố.
Làm sao luyện viết nghị luận xã hội cho nhanh tiến bộ?
Mỗi tuần viết hai đoạn 200 chữ về hai chủ đề khác nhau, bấm giờ 20 phút mỗi đoạn, sau đó tự soát theo ba tiêu chí: có ý kiến rõ chưa, có bằng chứng chưa, có câu chốt chưa. Cách này hiệu quả hơn đọc nhiều bài mẫu.