RE: HR là gì? Tầm quan trọng của HR trong một doanh nghiệp

      HR là gì? Ai giải thích giúp mình chi tiết về HR  và tầm quan trọng của nó trong một doanh nghiệp với ah.

      MBA Lớp mầm Asked on 12/02/2019 in Kinh tế học.
      Thêm bình luận
      1 Trả Lời

        Định nghĩa nguồn nhân lực (HR)

        Dave Ulrich được cho là người sáng tạo ra quản trị nguồn nhân lực (HR), là người đầu tiên đưa ra khái niệm “nguồn nhân lực” (Human resource – HR). Trước kia, nguồn nhân lực được gọi là “quản lý nhân sự” (Human management). Ulrich cho rằng, hiện nay thứ vũ khí duy nhất còn lại có sức cạnh tranh chính là tổ chức.

        Vì những yếu tố cạnh tranh truyền thống như chi phí, kỹ thuật, phân phối, chế tạo và đặc tính sản phẩm sớm muộn rồi cũng sẽ bị sao chép. Chúng không thể đảm bảo bạn sẽ giành chiến thắng. Trong nền kinh tế mới, thắng lợi sẽ tới từ khả năng tổ chức, bao gồm tốc độ, sự phản hồi, độ nhạy cảm, khả năng học hỏi và tố chất nhân viên. Sứ mệnh mới của phòng quản lý nguồn nhân lực liên quan tới sự bồi dưỡng khả năng tổ chức vượt trội

        Nguồn nhân lực là tổng hợp của giáo dục, năng lực, kỹ năng, kinh nghiệm, thể lực của mọi thành viên trong tổ chức có thể được doanh nghiệp tận dụng và có tác dụng làm ra giá trị. Cho doanh nghiệp.

        Bao gồm một vài điểm quan trọng dưới đây:

        1. Bản chất của nguồn nhân lực là sự tổng hoà giữa trí não và thể lực của con người, có thể gọi chung là sức lao động.
        2. Khả năng này phải có tác dụng làm ra của cải, là nguồn gốc của của cải xã hội.
        3. Khả năng này còn phải được tổ chức tận dụng, tổ chức ở đây có thể là quốc gia hoặc một khu vực hoặc cũng có thể là một doanh nghiệp.

        HR là gì

        Kinh tế học gọi tất cả yếu tố cần có trong quá trình sản xuất để tạo ra của cải vật chất là “nguồn tài nguyên”, bao gồm nguồn nhân lực, nguồn vật lực, nguồn tài lực, nguồn thông tin, nguồn thời gian…. Trong đó nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất.

        Nguồn nhân lực là tổng hoà những con người có khả năng lao động trí óc và lao động chân tay, có thể thúc đậy sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm 2 phương diện về số lượng và chất lượng. Phương diện cơ bản nhất của nguồn nhân lực gồm thể lực và trí lực, căn cứ vào trạng thái vận dụng thì bao gồm thể chất, trí lực, tri thức và kỹ năng. Nguồn nhân lực cũng giống như những nguồn tài nguyên khác, có tính  vật chất, tính khả dụng và tính hữu hạn.

        Thông thường số lượng của nguồn nhân lực chính là số lượng người có kỹ năng lao động, chất lượng của nguồn nhân lực là trình độ thể chất, kiến thức văn hoá và kỹ năng làm việc của người lao động. Điều kiện tiên quyết cần phải có để xã hội có thể sản xuất là một nguồn nhân lực có số lượng nhất định.

        Thường thì có nguồn nhân lực dồi dào sẽ có lợi cho phát triển sản xuất, nhưng số lượng cần phải tương ứng với sự sản xuất hàng hoá vật chất, nếu vượt quá không chỉ tiêu hao lượng lớn sản phẩm mới sản xuất mà nhân lực dư thừa cũng không có việc làm, ảnh hưởng xấu tới phát triển xã hội. Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như vũ bão, kinh tế chủ yếu dựa vào chất lượng tố chất của người lao động. Cùng với việc quá trình sản xuất áp dụng rộng rãi khoa học kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực càng ngày càng có vai trò quan trọng.

        1. Tính vật chất của nguồn nhân lực nghĩa là có một lượng người lao động nhất định mới có được lượng nhân lực nhất định. Nguồn nhân lực nhất định chắc chắn đại diện cho một số lượng người nhất định.
        2. Tính khả dụng của nguồn nhân lực nghĩa là, thông qua việc sử dụng những đặc trưng và khuynh hướng của thể lực, tri thức, năng lực, hành vi cá nhân (ví dụ như tính cách, giá trị quan) có thể tạo ra giá trị lớn hơn.
        3. Tính hữu hạn của nguồn nhân lực nghĩa là, chất và lượng của nguồn nhân lực là có hạn, chỉ hình thành với điều kiện nhất định, và chỉ được tận dụng ở một quy mô nhất định.

        Để hiểu rõ về ý nghĩa của nguồn nhân lực, cần phải hiểu về khái niệm liên quan như tài nguyên nhân khẩu, nguồn tài nguyên sức lao động và nguồn tài nguyên nhân tài. Dưới đây là mối quan hệ giữa nguồn nhân khẩu, nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên sức lao động và nguồn tài nguyên nhân tài.

        nguôn nhân lực

        Đặc trưng của nguồn nhân lực (HR)

        Nguồn nhân lực là một loại nguồn tài nguyên đặc thù và quan trọng, là phần có sức sống và linh hoạt nhất trong các yếu tố của khả năng sản xuất, bao gồm những đặc trưng dưới đây:

          1. Tính sinh học:

        Khác với những nguồn tài nguyên khác, nguồn nhân lực thuộc sở hữu của tự thân con người, tồn tại trong cơ thể người là một loại tài nguyên “sống”, có mối liên hệ chặt chẽ với đặc điểm sinh lý, di truyền gen của con người, mang tính sinh học.

          1. Tính thời đại:

        Số lượng, chất lượng của nguồn nhân lực và sự nâng cao tố chất nguồn nhân lực, tức sự hình thành nguồn nhân lực chịu ảnh hưởng của thời đại.

          1. Tính năng động:

        Tính năng động của nguòn nhân lực là sự kết hợp giữa thể lực và trí lực của người lao động, mang tính năng động chủ quan, có tiềm lực có thể khai thác liên tục.

          1. Tính hai mặt:

        Tính hai mặt là chỉ nguồn nhân lực vừa mang tính sản xuất vừa mang tính tiêu thụ.

          1. Tính thời hạn:

        Thời hạn của nguồn nhân lực ý nói nếu không dùng nguồn nhân lực trong một thời gian dài thì sẽ nó sẽ bị suy thoái.

          1. Tính liên tục:

        Tính liên tục nghĩa là nguồn nhân lực có thể được khai thác liên tục, không chỉ quá trình sử dụng nguồn tài nguyên là quá trình khai tác mà bồi dưỡng, tích luỹ và sáng tạo cũng là quá trình khai thác nguồn nhân lực.

          1. Tính tái tạo

        Nguồn nhân lực có thể tái tạo bằng sự thay thế liên tục các cá thể trong tổng thể nhân khẩu và quá trình “tiêu hao – sản xuất – tái tiêu hao – tái sản xuất” của sức lao động. Tính tái tạo của nguồn nhân lực ngoài bị chi phối bởi quy luật sinh học, bởi ý thức và ý chí của bản thân con người, chịu ảnh hưởng bởi hoạt động phát triển văn minh nhân loại và sự hạn chế của cuộc cách mạng kỹ thuật.

        Phân bệt nguồn nhân lực và nguồn vốn con người

        Mối quan hệ:

        Nguồn nhân lực và nguồn vốn con người đều là khái niệm có con người là cơ bản, đối tượng nghiên cứu đều là trí lực và thể lực của con người, nhìn từ phương diện này thì hai khái niệm là giống nhau. Hơn nữa lý thuyết quản lý nguồn nhân lực hiện đại đều dựa vào lý thuyết nguồn vốn con người. Lý thuyết nguồn vốn con người là nội dung trọng điểm và cơ bản của lý thuyết quản lý nguồn nhân lực. Cả hai đều được sinh ra trong quá trình nghiên cứu tầm quan trọng của yếu tố nhân lực trong quá trình sản xuất đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế.

        Khác biệt:

        Trước tiên, hai khái niệm khác nhau về mối quan hệ với của cải và giá trị xã hội. Nguồn vốn con người được hình thành từ sự đầu tư, nhấn mạnh việc nhận được giá trị từ khả năng hoặc kỹ năng bằng một cái giá nào đó, Cái giá của đầu tư có thể được thu hồi với giá trị lớn hơn trong quá trình nâng cao năng lực sản xuất. Do đó, người lao động đầu tư thể lực và trí lực của mình vào quá trình sản xuất để tạo ra giá trị. Dựa vào đó nhận được thù lao và giá trị kinh tế tương ứng. Giữa nguồn vốn con người và giá trị xã hội có thể gọi là mối quan hệ từ nguyên nhân tim ra kết quả.

        Còn nguồn nhân lực thì khác, nó là một loại tài nguyên, trí lực và thể lực của người lao động có vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra giá trị. Nguồn nhân lực nhấn mạnh nhân lực là yếu tố sản xuất, có thể tạo ra sản phẩm, của cải, thúc đẩy kinh tế phát triển. Giữa nguồn nhân lực và giá trị xã hội có thể gọi là mối quan hệ từ kết quả tìm lại nguyên nhân.

        Thứ hai, khác nhau về góc độ và trọng điểm nghiên cứu. Nguồn vốn con người là hình thức đồng vốn tồn tại trong con người qua sự đầu tư, là sự cô đọng giá trị của nguồn vốn vật chất tạo nên trí lực và thể lực trên cơ thể con người, là nghiên cứu tác dụng của con người trong quá trình tăng trưởng kinh tế trên góc độ thu lợi từ chi phí. Nó nhấn mạnh cái giá phải trả và sự thu hồi sau khi đầu tư, suy tính vốn đầu tư sẽ đem lại bao nhiêu giá trí, nghiên cứu tốc độ và biên độ tăng giá trị, trọng điểm quan tâm là sự thu lợi, tức việc đầu tư có thu lại được không và thu lại được bao nhiêu lợi ích.

        Còn nguồn nhân lực coi con người là nguồn tài nguyên làm ra của cải, nghiên cứu tác dụng của con người với sự phát triển kinh tế trên góc độ đầu vào và đầu ra, trọng điểm quan tâm là đầu ra, tức nguồn nhân lực có cống hiến bao nhiêu, khả năng thúc đẩy như thế nào tới sự phát triển kinh tế.

        Cuối cùng, nguồn nhân lực và nguồn vốn con người khác nhau về đơn vị tính. Nguồn tài nguyên là khái niệm về lượng tồn kho, còn nguồn vốn thì có cả lượng tồn kho và lưu lượng. Nguồn nhân lực là sự tổng hoà của thể lực và trí lực của con người có thể tạo ra giá trị và được tổ chức tận dụng trong một thời gian, không gian nhất định, Nếu nhìn từ rất góc độ sản xuất, nguồn vốn con người luôn liên quan tới việc hạch toán lưu lượng, biểu hiện là kinh nghiệm được tích luỹ liên tục, kỹ năng luôn tăng tiến, lượng sản xuất ra thay đổi liên tục và thể lực không ngừng bị tiêu hao. Nếu nhìn từ góc độ hoạt động đầu tư thì liên quan tới hạch toán lượng tồn kho, biểu hiện là sự cô động vốn đầu tư vào bồi dưỡng giáo dục, di chuyển, sức khoẻ con người.

        Về trực quan, nguồn nhân lực là sản phẩm của nguồn vốn con người dưới hình thức con người (giống như mỏ khoáng năng lượng), còn nguồn vốn con người là sự tổng hoà của trí lực, kinh nghiệm, kỹ năng và thể lực được khai thác trong nguồn tài nguyên và được sử dụng trong quá trình sản xuất (giống như khoáng vật được khai thác từ mổ khoáng). Chỉ khi có kế hoạch và sắp xếp hợp lý nguồn nhân lực mới khai thác được tối đa nguồn vốn con người cho chính phủ cũng như các doanh nghiệp.

        Phân tích kinh tế học về nguồn nhân lực

        “Lao động làm ra giá trị.” Khả năng sản xuất là khả năng nhận thức và cải tạo thế giới của con người. Nó được cấu thành từ 3 yếu tố: người lao động, công cụ lao động và đối tượng lao động. Quá trình sản xuất là người lao động dùng công cụ lao động tác động lên đối tượng lao động, là quá trình chuyển giá trị của công cụ lao động và đối tượng lao động sang sản phẩm mới, cũng là quá trình người lao động sáng tạo giá trị.

        Do nguồn nhân lực có thể tạo ra giá trị mới (v+m), giá trị của nguồn nhân lực sẽ lớn hơn chi phí có được của nguồn nhân lực, vì vậy chúng ta chỉ có thể dùng giá trị mới của nguồn nhân lực tạo ra để đo lường giá trị của nguồn nhân lực. Giá trị của nguồn nhân lực và giá trị mới anh ta tạo ra gộp lại làm một. Giá trị của nguồn nhân lực tồn tại ở sản phẩm anh ta tạo ra và dịch vụ anh ta mang lại, đồng thời được thực hiện thông qua quá trình trao đổi xã hội.

        Giá trị của nguồn nhân lực tự nhiên sẽ thể hiện tại giá trị của sản phẩm và dịch vụ của nó mang lại trừ đi lượng tiêu hao nguồn tàinguyên vật chất cần thiết. Thể hiện bằng đẳng thức kế toán như sau:

        Giá trị nguồn nhân lực (v+m) = doanh thu – chi phí sản xuất – khấu hao tài sản cố định và tài sản vô hình trong thời gian đó (c)

        Nó phản ánh giá trị tổng thể nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong thời gian kế toán. Căn cứ phân tích trên đây, thu nhập của doanh nghiệp có thể chia thành 2 phần: một phần dùng để bù vào tài nguyên vật lực đã tiêu hao (c), một phần là giá trị mà nguồn nhân lực tạo ra (v+m).

        Giá trị nguồn nhân lực tạo ra được những người liên quan trong doanh nghiệp chia ra thành: lương mà người lao động được nhận (v), lãi suất của các chủ nợ, các loại thuế nộp cho chính phủ, còn lại chính là lợi nhuận ròng, trừ đi lợi nhuận của cổ đông, là thành tích luỹ của doanh nghiệp (m).

        Bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh hiện nay không chỉ phản ánh quá trình chuyển đổi của giá trị vật tư doanh nghiệp © mà cũng phản ánh giá trị mà nguồn nhân lực tạo ra (m) và quá trình phân phối của nó. Giá trị nguồn nhân lực tạo ra chính là giá trị tổng thể của nguồn nhân lực trong thời gian kế toán.

        Cũng có nghĩa là bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả kinh doanh hiện nay đã cung cấp toàn bộ thông tin về toàn bộ giá trị của nguồn nhân lực hiện tại và sự đóng góp của những người có lợi ích liên quan trong doanh nghiệp, không cần phải gộp nguồn nhân lực vào hệ tống hạch toán kế toán tài chính.

        Bình luận về nguồn nhân lực

        Có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa nguồn nhân lực của doanh nghiệp, có người cho rằng coi con người là nguồn tài nguyên là không hợp lý. Con người có tính cách, có nhân quyền, có ý chí độc lập. Nguồn tài nguyền không có tính cách, không có nhân quyền, không có ý chí. Nguồn tài nguyên chỉ là vật, con người là chủ.

        Nguồn tài nguyên có thể được người sở hữu, được sử dụng, con người không thể sở hữu người khác, không thể sử dụng người khác. Doanh nghiệp là pháp nhân, con người là nhân viên của doanh nghiệp, có sự bình đẳng. Coi con người là tài nguyên nghĩa là coi người là đồ vật là máy móc.

        Quản lý nguồn nhân lực, quản lý con người như quản lý tài nguyên có nghĩa là: phủ định sự bình đẳng giữa pháp nhân là doanh nghiệp với người được tuyển dụng, phủ định tính tự chủ, tính chủ động của con người. Coi khả  năng của con người là tài nguyên, tài sản, tiền vốn sẽ hợp lý hơn là coi con người là những thứ đó.

        Có điều sức lao động trước tiên là tài nguyên của chính con người chứ không phải của doanh nghiệp, chỉ khi con người ràng buộc với doanh nghiệp bằng hợp đồng lao động, thì khả năng làm việc của con người được thuê mới trở thành tài nguyên của doanh nghiệp.

         

         

        Giáo Sư                 Đã trả lời vào 12/02/2019
        Thêm bình luận
        Câu trả lời của bạn
        Khi tham gia trả lời bạn phải đồng ý với các điều khoản trên web site của chúng tôi: privacy policy and terms of service.